TRIỆU VĂN ĐỒI- NGƯỜI KÉO VÓ BÈ

Triệu Văn Đồi là nhà văn viết cần mẫn và bền bỉ của Tỉnh Hòa Bình. Truyện ngắn của anh có lối viết khá sắc với nhiều hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng. Trang Blog của Lê Mai Thao đã từng giới thiệu những truyện ngắn và bút ký xuất sắc của anh. Hôm nay là một truyện ngắn dự thi mới đăng trên Văn Nghệ trẻ để các bạn văn biết thêm và chia sẻ với một cây bút chắc tay của Văn Nghệ Hòa Bình.
alt

(Nhà văn Triệu Văn Đồi (áo trắng)cùng các bạn văn

 

 NGƯỜI KÉO VÓ BÈ

                                                                        – Truyện ngắn –

 

Lão đã gắn một phần đời với khúc sông này. Khúc sông mà khi chưa có đập thuỷ điện, dòng sông như con ngưạ bất kham dựng bờm trắng xoá, tung vó bay ngoạn mục qua thác Bờ rồi lồng lộn phi nước đại giữa hai bên vách đá cheo leo, dựng đứng như tường thành. Về đến bản Tháu thì đã đuối sức, kiệt hơi, con ngựa bỗng trở nên thuần nết, rũ bờm chạy nước kiệu xuôi về phía núi Tản Viên.

Lão vốn là dân lái xe hạng nặng. Mấy năm liền kíp bốn, ca ba tham gia các đợt lấp sông. Thoắt cái, lão trở thành thợ khiêng cột điện và kéo pa lăng xích. Giá như  ngày ấy (chẳng biết trong đời người ta còn có thể xoay chuyển, còn có thể làm lại được bao nhiêu sau những cái giá như?), nếu lão không đánh vòng vô lăng về bên trái, không “bốc” một tí khi nhấn ga cho xe vượt lên trên đoạn đường trắng mù vì bụi đá(?). Rõ ràng đường rộng mà hà cớ gì các xe đi đầu lại cứ nép vào bên phải. Từ trên ca bin cao ngất nghểu, lão quan sát không thấy chướng ngại gì ngoài bụi trắng mịt mùng. Vượt. Chả có vấn đề gì. Lão cuồng cuống đạp phanh. Chiếc ca bin mấy tầng giảm xóc nhún xuống rồi như muốn nhao hẳn ra khỏi đầu xe. Chỉ cách chưa đầy hai mét nếu không phanh kịp chắc xe lão đã nghiến nát chiếc Volga đen bóng, mỏng manh như vỏ trứng trước xe lu. Tắc đường. Lão muốn cài số lùi nhưng … mẹ kiếp! Gương chiếu hậu đã choán đầy cả một đầu xe Benla sát đít. Vì thấy lão vượt lên mà mấy chiếc xe sau đã vội vã bám theo. Tài xế nào cũng hăm hở với định mức khoán chuyến, mọi thứ thu nhập đều được tính theo khối lượng khoán: Từ tiền ăn giữa ca tới mức thưởng và tiền độc hại…Bây giờ thì hiển nhiên là xe lão chắn đường chiếc Volga không rõ là của “Sếp” nào.  Châu chấu không thể đá được voi, xe của “Sếp” đành phải cài số lùi một đoạn gần trăm mét. Lúc đánh được về phần đường bên phải, nhìn xuống dưới, lão chỉ kịp  thấy một cánh tay múp míp nâng ngang làm ánh lên chiếc đồng hồ mạ vàng Poljot.

Lão bức xúc. Lão có thể xuýt nữa gây tai nạn, có thể làm chậm giờ giao ban của “Sếp”… Nhưng quá lắm thì mang ra mà kiểm điểm hoặc “treo” tay lái của lão một thời gian là cùng. Nào ngờ. Đúng cái hôm “sự cố” buổi sáng thì ngay buổi chiều đã có quyết định điều lão về đội chuyên lắp dựng đường dây. Thế mới biết trong lúc công trường đang khẩn trương và đồng bộ thi công thì các quyết định kỷ kuật, điều chuyển cũng luôn “bám sát” từng giờ theo tiến độ… Mấy chục năm sau này, nhiều khi lẩn thẩn lão nghĩ: Giá như không có “sự cố” chốc lát ấy, chưa chừng lão được đi báo cáo điển hình, có khi còn được theo lớp bồi dưỡng để xây dựng anh hùng lao động cũng nên.

Quá khứ có thể không còn nhớ lão. Nhưng lão thì quả chưa bao giờ quên quá khứ. Những năm tháng lao động vất vả trên công trường, lão đã có một “mối tình” mà theo lão là rất đẹp. Đẹp theo kiểu công trường. Nó vừa “tốc độ” lại vừa bạo liệt. Vốn là một tay lái ưa tốc độ, những chuyến chót đưa xe về bãi giao ca, lão đều cho những xe sau ăn “khói”. Không phải chuyến chót theo kiểu “mã hồi” mà cốt chỉ dành ra năm ba phút gặp Tươi. Tươi là thống kê của xí nghiệp Cơ giới. Nói là thống kê nhưng nếu không phải dân công trường thì ai cũng bảo là được ngồi bàn giấy. Thống kê công trường hồi ấy là đứng phơi mặt trên tuyến mà theo dõi khối lượng, trực tiếp đếm xe, phát thẻ. Nắng – bụi. Rét – bụi. Tươi chỉ khác những cô gái ở Thuỷ Nguyên lúc ra đồng là đi giầy vải với găng tay bảo hộ mà thôi. Tất cả chỉ còn hở hai con mắt. Kín là thế mà chẳng hiểu thế nào đêm ấy, lão lại bỗng hoạt ngôn. Chẳng ra ỡm ờ, chẳng ra thành thật, nói đằng tây chết cây đằng bắc khi quay kính và thò đầu ra khỏi cabin:

– Người đâu ta mà thon thả, trắng nõn trắng nà như thế!

– Lái xe Gấu hẳn hoi, đâu phải kẻ mò cua mà hay ăn ốc. Chỉ được cái nói mò. Trắng như than Hòn Gai thì có.

Nhìn Tươi lườm mà lão há hốc mồm. Nhăn nhở: – Cuộc nào?

– Cuộc thì anh thua là cái chắc. Thua rồi lấy gì mà đền?

– Đền người.

– Nỡm.

Tươi lại lườm khiến mặt lão thộn ra.

– Mà thôi. Chờ đây phát nốt mấy thẻ nữa cho mấy ông phát vãng rồi cho quá giang một đoạn.

Ruột gan lão nở bung. Từ điểm phát thẻ về bãi giao xe, con Gấu của lão cũng run lập cập như người bẻ lái. Chiếc xe Gấu của lão luôn chạy rẽ đất mà bây giờ cũng khổ sở như kẻ bị hành xác do phải biến thành con… Rùa. Lão giao xe chậm hơn mười phút.

Nhà ăn ca nêm chật cứng người. Bữa tối hôm ấy có bia hơi và bánh mì kẹp thịt. Tranh thủ người đứng trước đang loay hoay vì chiếc can nhựa không chứa hết tiêu chuẩn, lão chìa luôn phiếu bồi dưỡng cùng chiếc mũ lò. Phiếu của lão loại A, chiếc mũ lò cũng không chứa hết. Đúng là ăn, uống và ngủ như lái xe Gấu. Lão vục đầu, chưa được hai hơi, bia trong mũ đã vơi quá nửa. Một tay giơ cao chiếc mũ còn sàu trắng bọt bia, lão vừa lách vừa gạt những người xung quanh tiến về phía Tươi đang ngồi vắt vẻo trên một khối bê tông hình chóp cụt.

– Đằng ấy uống đi.

– Em á! Có biết uống bia đâu. Say thì chết!

– Say tớ cõng về.

Họ chuyền tay nhau chiếc mũ lò. Trong ánh đèn Senon trắng xanh như pháo sáng hắt xa từ trên đỉnh đồi Ông Tượng, hai má Tươi chín đỏ vì mấy ngụm bia. Lão như nghẹt thở trước cái màu đỏ khơi gợi chất men đàn ông, cái màu đỏ xúi dục sự sang đoạt khi trong đầu loé lên một ý nghĩ: Phải cắn một cái thật đau vào đó.

Những bước chân của Tươi đã không thật. Càng ra xa nhà ăn ca và nhất là đến chỗ rẽ vào khu tập thể, Tươi như tựa hẳn người vào lão. Đêm trên công trường xây dựng lúc hết ca thật bình yên. Bình yên như những phuy nước sau các dãy nhà tập thể. Sao khuya vằng vặc. Thứ ánh sáng ngỡ như là ánh sáng của viễn tưởng. Nó đối nghịch với không gian chói gắt, ầm ào, chát chúa và ngập ngụa bụi, bùn – bùn, bụi. Đôi tay vâm váp của lão bế thốc Tươi lên. Chỉ nghe những thân lau gãy rạp dưới đôi dày bảo hộ ngoại cỡ. Lão nhẹ nhàng đặt Tươi trên thảm cỏ đã dịu êm, mềm mướt bởi sương khuya. Đêm như cũng sáng thêm nhờ nước da trắng nõn trắng nà của Tươi mà vừa nãy lão tán mò. Thân thể Tươi chua, mặn sau một ca được ủ kín bởi lần áo bảo hộ cứng như mo nang cùng găng, tất mà vẫn ngất ngây mùi da thịt con gái. Những xung chấn. Những vách đá sạt ào sau những khối nổ lớn khi đào kênh dẫn nước như cùng đồng vọng, tích đầy trong khoảnh khắc. Tươi cắn vào ngực lão đến rớm máu để nén một tiếng thét… Rồi cả hai cùng mê đi trong hoan hỉ như ngày nào kênh dẫn nước đã thông.

 

xxx

 

Những ngày ở trong tù, ngoài nỗi khao khát tự do, thứ tự do bị t­ước đoạt công bằng hay thiếu công bằng với lão cũng đều thế cả. Và, cũng vì ở trong tù, ngoài cái thời gian bị cư­ỡng chế, lão khôn hơn những phạm nhân khác ở chỗ biết tìm cho mình những khoảnh khắc tự do. Đấy là lúc thiên hạ đã đi ngủ cả. Ai thức – Ngư­ời đó đư­ợc tự do và tự do tuyệt đối trong ý nghĩ. “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” là cách so sánh, ví von để nói về khao khát tự do của con người trong tù ngục. Lão biết tìm cho mình những khoảnh khắc tự do nên lại càng thấm thía câu nói đó. Về điểm này, lão tự nhận cho mình sự vư­ợt trội so với những kẻ khác. Những ngày đầu vào trại, lão đã phải trải qua hai lần tù tội. Tù vì án phạt. Tù vì phải làm nô lệ cho một lũ  ăn uống bốc bải và cướp giật,  nói năng mười câu thì chín câu có cái khởi đầu của sự tồn, sinh. Sao trong những cái mồm ấy lại có thể là những cái lưỡi được nhỉ(?). Bài bạc chán, đánh nhau chán rồi chúng lại thản nhiên lăn ra ngủ. Nằm chư­a kịp giãn lư­ng, chưa kịp ấm chỗ đã thấy lảm nhảm những mê sảng cùng hú hét, đã thấy ngáy ran như­ sấm và thấy “chim”  thẳng đứng như­ măng tre đội đất chui lên hết lượt. Lão nghĩ bọn này có ra tù, chẳng chóng thì chầy rồi cũng lại vào trại cả thôi. ở ngoài kia chúng lộng thế nào không biết chứ trong này thì đúng là anh hùng nhất khoảnh. Phòng giam có hai dãy bệ xi măng mà có đến ba bốn phe nhóm, băng đảng. Băng nhóm nào cùng muốn giành giật, lôi kéo những tù nhân mới để được “chăn dắt”.

Vợ lão mấy năm nay cứ “tắc” đều. Nói như bọn đàn anh trong trại, chuyên “chăn dắt” cánh tù mới thì lão đúng là một “con gà” công nghiệp, đẻ ra những “quả trứng vàng”.

…Ngày mới vào trại, bữa cơm tù đầu tiên lão tự nhiên không có xuất. Bụng đói mà không giám hỏi ai đành ôm bọc quần áo ngồi thu lu ở một góc bệ xi măng. Một thằng mặt choắt lại để ria, cao lêu đêu như­ cây sào đi về phía lão. Hự. Thằng đó bất ngờ co chân đá thẳng vào mạng sườn khiến lão đau tái mặt.

– Đ. mẹ! Sao mày giám ngồi vào chiếu của bố mày.

Lão còn đang đau điếng, ngơ ngác chưa hiểu tại sao thì một thằng ở trần, ngực và lư­ng đều xăm trổ vằn vện những hổ vờn, rắn quấn, cổ đeo sợi dây chuyền bạc có chiếc vuốt to bằng ngón tay cái (dáng như­ đàn anh của bọn này – trư­ớc đây lão có nghe loáng thoáng trong tù vẫn tồn tại một xã hội kiểu anh chị) nói như­ ra lệnh và vẫy lão lại gần.

– Thôi! Không đư­ợc đánh nó. Mấy hôm nữa bắt nó giặt tất cả.

Lão như­ vẫn dính đít trên bệ xi măng. Một cú đá tiếp kèm một câu chửi tục: – Đ. cái thắng bố mày! Không nghe đại ca nói hay sao?

– Lại đây! Can tội gì?

– Tôi trót đánh chết người.

– Đánh chết ai?

– Thằng ngủ với vợ tôi.

– Nó ngủ với vợ mày thì đánh chết luôn cả cái thắng bố, con mẹ nó. Sao mà phải trót với trét!

– …

– Xử mấy gậy?

– ……….

Thằng mặt choắt đứng bên gí nắm đấm vào đầu lão: – Đ. cả họ nhà mày. Đại ca hỏi mày phải vào đây mấy năm?

– Tôi bị xử tù giam sáu năm.

– Sao nhẹ thế? Đánh chết ngư­ời mà chỉ có sáu gậy.

– Hắn chết ngay trong nhà tôi. Luật sư­ bảo tôi có tình tiết giảm nhẹ do quyền được tự vệ chính đáng.
– Khá! Thằng này cũng hiểu luật ra trò đấy. Như­ng mà nghe cho rõ đây: – – Ngoài kia có luật của ngoài kia, trong này cũng có luật riêng của nó đấy con ạ! Nhớ mà thuộc cho kỹ.

Rồi lão đ­ược xếp nằm sát cửa hố xí. Cái chiếu nằm của lão thành tấm trải lau chân cho cả phòng giam, lúc nào cũng nhớp nháp cái thứ nư­ớc dấp dính, dậy  mùi khăm khẳm. Mấy đêm đầu lão không thể nào nằm được, đành xuống lối đi giữa hai bệ xi măng ngồi gục đầu mà ngủ. Rồi lão cũng được xếp nằm xa dần hố xí cũng nhờ những “quả trứng vàng”.

Thấy tiếp tế đều, (nhất là những ngày đầu, nếu không nhờ những món quà tiếp tế thì chẳng biết bọn anh chị trong phòng giam còn hành hạ lão đến bao giờ) lão chừng như cũng nguôi bớt cơn lửa ghen tuông, thù hận khi vợ lão ngoại tình. Với vẻ đẹp lồ lộ, trắng thơm như xôi nếp của Tươi thì trăm thằng đàn ông, thằng nào mà chẳng đói khát, chẳng muốn thò tay mà bốc… Mà cũng một phần do lão. Đang từ mức lương lái xe Gấu, lại chạy khoán, tăng kíp tăng ca, đùng một cái xuống hưởng lương lao động phổ thông, chỉ còn bằng một phần sáu. Chẳng lẽ lão cứ để chiếc giường cưới được ghép lại từ hai chiếc giường cá nhân mãi hay sao… Nhiều đêm, khi được trở về những khoảnh khắc tự do, lão nhận ra cái sai lầm lớn nhất của người chồng, người đàn ông trong đời lão: Chỉ lo kiếm tiền (mà lão kiếm ra đồng tiền nào có dễ dàng, mát mẻ gì? Ngày đi làm, đêm ra cửa ngòi cất vó bè – cái thời mà hàng vạn người đều sống bằng tiêu chuẩn từ một cơ quan chuyên phục vụ hậu cần thì đó là một sự lựa chọn khôn ngoan) nên liên tục nhiều đêm, lão để quên người đàn bà hơ hớ, một mình vò võ trong đêm. Sáu năm trong trại giam, với lão là một thời gian dài khủng khiếp, đủ để gột rửa và sẵn lòng tha thứ. Chỉ có một điều, một điều cho đến ngày sắp mãn hạn tù lão vẫn không hiểu nổi: Tại sao Tươi chỉ gửi đồ tiếp tế mà không gặp lão lấy một lần.

 

xxx

 

Nhiều đêm công trường mất điện và cũng nhiều đêm không có kíp bốn, ca ba, cả công trường bừa bộn, ngổn ngang chìm sâu vào giấc ngủ. Chỉ có dòng sông vẫn thức. Vẫn mải miết trôi xuôi, vẫn mải miết đắp bồi cho những bờ bến mới. Tiếng cá quẫy cầm canh, tiếng cần vó bè kẽo kẹt đều đều của lão như  phông nhạc trầm buồn, muôn thuở của bài ca đêm sông nước. Gió từ mặt sông mang theo hơi nước, hơi sương rười rượi, se se. Lão thiu thiu vắt ngang mình chiếc chăn chiên đã hết tuyết. Dưới sạp nứa, nước trong ngòi đang lặng lẽ ra sông, mang theo vô số phù du, lá ải. Mùi bùn, mùi cá tôm và cả mùi rượu Gốt mà lão vừa làm vài tợp cho ấm bụng như vây bọc trong khum lều. Đã từ lâu, lão có thói quen ngủ chớp nhoáng chỉ trong năm, mười phút và cũng chỉ trong năm, mười phút. Cứ như thể trong óc lão có sẵn một chiếc đồng hồ hẹn giờ chính xác đến từng giây. Nhìn đằng trước có ba, bốn xe đang chờ máy xúc, lão biết phải mất mười lăm phút. Vậy là lão tranh thủ ngủ mười phút. Ngủ thật sâu và tỉnh dậy đúng sau mười phút. Cả đội xe phải kính nể lão vì thời gian liên tục tăng ca mà vẫn hoàn toàn tỉnh táo. Cũng nhờ thói quen ấy mà ban ngày đi làm, đêm nào lão cũng ở dưới vó bè. Thời gian mỗi lần cất vó không đòi hỏi chính xác, liên hoàn nên lão cũng ngủ được chừng bốn năm tiếng. Có đêm nhớ vợ, một hai giờ đêm lão cuốc bộ về nhà. ác cái vợ lão cũng lại ca đêm, lão đành phải khư khư ôm cái nỗi khát khao nhục thể xuống vó bè.

…Lão đã chìm vào giấc ngủ. Sao giấc ngủ đêm ấy cứ choán ngập, tràn phè những rong rêu, nhớt nhát. Chiếc vó bè của lão dập dềnh, dập dềnh. Tiếng giát nứa dưới lưng kêu kèo kẽo như sắp sửa bung ra từng mảnh. Người lão căng cứng, ứ đầy như đập nước vào mùa mưa lũ rồi bất thần rung lên bần bật. Xả tràn. Nước vọt từ sân tiêu năng xô vào hai bên bờ kè ọp ọp… Lão tỉnh. Không phải giấc mơ. Lão bối rối vì không thể hiểu tại sao như thế. Không biết phải xử lý thế nào ngoài việc hất người đàn bà đang trong tư thế ngồi trên bụng lão theo bản năng, mạnh đến nỗi giá không có vách lều, chắc thị phải văng ra ngoài hàng mét. Thị cứ mằm tơ hơ. Thị có bối rối hay không cũng chẳng cần biết, nhưng rõ ràng trong chuyện này, thị là người chủ động và đương nhiên là lão bị… “cưỡng dâm”. Cái ý nghĩ bị cưỡng hiếp khiến máu trong người lão sôi lên. Lão muốn lao tới, xiết hai gọng kìm thép vào cổ thị. Nhưng khốn nỗi, mọi thứ đều chống lại lão. Rõ ràng tình thì ngay mà lý thì gian. Sau giấc mơ – sau khi bị cưỡng hiếp, thịt da, cơ bắp lão vẫn còn râm ran, căng cứng. Vậy thì lão cũng đích thị là kẻ tòng phạm, sao có thể gọi là bị cưỡng dâm? Không có lý lẽ nào để có thể chống chế, biện minh. Sự phản bội của cơ bắp đã quật ngã lý trí, đưa lão vào tâm trạng của một kẻ yếm thế và hổ thẹn. Lão chỉ còn cách là lao vội xuống ngòi. Những hạt phù sa li ti mịn mát vỗ về da thịt, nhanh chóng xóa đi dấu vết bản năng nhục thể, giúp lão trở về tâm thế của một anh chủ vó bè. Lão khêu to ngọn đèn bão và ném cho thị tấm chăn.

– Cô là ai?

Thị uể oải ngồi dậy và vấn lại tóc. Dưới ánh đèn vàng vọt, hai bắp đùi và bộ ngực thị bầm dập, đầy những vết tím thâm. Thị gục mặt trên hai đầu gối mà khóc nức nở. Trong đêm khuya, tiếng khóc của thị như loang khắp mặt sông, trườn lên bờ và len vào các ngõ ngách khiến lão lại càng bối rối:

– Sao cô giám…sao cô lại…?

Vài ba phút trần tình. Hóa ra từ  rất lâu, chiếc vó bè của lão đã trở thành ngôi nhà lý tưởng cho thị đi, về sau những đêm len lỏi trong mọi ngõ ngách, bán cái xuân xanh như một thứ hàng rong. Đêm nay, thị ế khách. Bải hoải, rã rời thị đành trở về “nhà” vì không biết đi đâu. Với thị, việc trở về “nhà” như đêm nay thật hy hữu và cũng có thể là một ngoại lệ. Lần đầu tiên trong đời thị được nhìn một người đàn ông nằm ngủ: Hiền lành khi hai tay ôm vòng quanh ngực nhưng mạnh mẽ trong tư thế hai chân mở rộng, bên duỗi bên co. Nó trái ngược với hình ảnh những con hổ đói, lao vào cắn xé, dày vò như muốn nghiền nát thị khi phải bỏ ra những đồng tiều nhàu nhĩ, nhiều khi còn ẩm xấp mồ hôi thì đã “mất tiền mua mâm thì đâm cho thủng”. Cái ý nghĩ  muốn được trả công (ai lại trả công như thế). Không, thị muốn trả ơn lão (mà đã trả ơn thì không thể miễn cưỡng) vì đã cho thị ở đậu bấy lâu nay (mặc dù anh ta chưa biết), để thị có thể yên tâm chìm sâu vào những giấc ngủ báo thù. Thị do dự. Trong khoảnh khắc do dự ấy, tố chất đàn bà làm đĩ tưởng như đã bị chai sạn và vô cảm bỗng như mềm lại, khiến nỗi khát khao được dâng hiến trào lên. Và, cũng chẳng khó khăn gì, thị nhanh chóng đưa lão vào một giấc mơ có thật.

 

xxx

 

Lão bồn chồn trước bao nhiêu dự cảm, dự định trong đầu. Phải khó khăn lắm lão mới loại bỏ được hình ảnh Tươi rướn người, rên lên hực hực trong cái đêm trước lúc xảy ra trọng án, khi lão bỏ mặc người đàn bà đã “chịu ơn” lão dưới vó bè. Lão sẽ tha thứ cho Tươi, tha thứ cho lỗi lầm đàn bà nông nổi mà trong đó – lão là một yếu nhân trong tư cách của kẻ dự phần. Lão sẽ bù đắp lại cho Tươi và cũng bù đắp, lấy lại những gì đã mất cho mình trong sáu năm nằm mốc trong tù.

Càng đến gần nhà, ngón chân nọ của lão đã nhiều lần đá vào gót chân kia. Đến lối rẽ vào khu tập thể thì tai lão bỗng u u, ù đặc. Hình như có ai đó đã gật đầu, đã mấp môi chào lão. Chẳng cần phải né tránh ai mà sao lão cứ cắm đầu vừa đi, vừa chạy như bị ma đuổi.

Vòng dây sắt sáu nín chặt bằng lực xiết của một chiếc tay công rất chắc giữ hai cánh cửa đốp vào mặt lão. Cửa sổ không còn cánh. Chỉ mới nhìn qua lão cũng thừa hiểu đó là một căn phòng đã nhiều năm hoang phế. Điệp khúc những cơn mơ được trở về ngôi nhà xưa yên ấm, có người vợ đẹp nhưng lẳng tính vỡ nhanh hơn bong bóng xà phòng. Lão gục đầu vào song cửa sổ. Đóng băng.

… Lê gót theo bước chân của ông hàng xóm bị tai nạn tập tễnh, ực liền mấy chén nước chè pha chưa kịp ngấm mà tay lão vẫn còn run. Hóa ra vợ lão đã theo đơn vị vào miền trung xây dựng công trình mới cũng ngót sáu năm rồi. Khu tập thể mấy chục nhà giờ chỉ con dăm bảy hộ… Cái nghề xây dựng khi xanh cỏ thì đến, đỏ ngói thì đi không có gì phải lạ. Vậy thì mấy năm qua… lão không thể đoán nổi không phải Tươi thì ai là người vẫn liên tục đến thăm nuôi? Ân oán chửa rõ ràng, lão không biết rồi đây sẽ xử sự ra sao.

– Thời buổi hậu công trường khó khăn lắm chú ơi! Nhưng cũng chẳng sao. Chú được về là mừng rồi. Cứ ở đây với vợ chồng tôi ít bữa hẵng hay.

– Vâng! Em rối ruột quá, chẳng biết nghĩ thế nào.

– Nghĩ làm quái gì cho nó mệt. Mọi sự thì cũng đã rồi. Hoặc là chú lại vào miền Trung mà xin cơ quan tiếp tục đi làm. Nhược bằng chẳng được thì xin nghỉ luôn một cục cho rồi. Những mấy nghìn người đã nghỉ một cục chứ chẳng phải một mình chú đâu mà ngại. Tôi là còn may vì bị tai nạn nên mới có chế độ mất sức, chứ vợ tôi, hai vợ chồng cùng thoát ly một ngày, giờ cũng phải một bảy sáu đấy!

Trong lúc chờ cơm chiều của người hàng xóm tốt bụng, bữa cơm đầu tiên sau hơn bốn nghìn bữa cơm trong trại cải tạo (có thể bữa cơm “tự do” đầu tiên ấy cũng không chênh lệch quá xa so với bữa cơm của ngày hôm qua), chỉ nghĩ vậy thôi mà sao buồng phổi lão ngập tràn không khí tự do. Tự do thấm vào những mao mạch phổi, tự do chảy ồ ạt trong huyết quản đi nuôi khắp toàn thân… Bước chân lang thang như có sự tiền định đưa lão ra phía bờ ngòi. Từ xa, lão đã nhận ra chiếc vó bè của mình nhờ những múi tôn Liên Xô vẫn thi gan cùng mưa nắng trên khum lều. Và, cái cảm giác hụt hẫng, bơ vơ trước đó khi nhìn sợi sắt sáu nín chặt cửa nhà mình bỗng dưng biến mất. Hóa ra, lão vẫn còn một “cõi” để đi, về. Đôi chân lão bỗng trở nên hoạt bát. Lòng lão lại bâng khuâng theo bước chân nhún nhảy trên những thân tre nối bờ ngòi ra bè vó.

Không bị đóng băng nhưng tim lão thì như ngừng đập khi vén manh chiếu cũ che cửa lều vó.

… Vẫn đôi mắt ầng ậc nước ngày xưa. Đôi mắt ấy đã làm lão nổi cơn điên. Đôi mắt ấy đã làm lão hổ thẹn, chấp nhận thỏa hiệp để rồi đọng mãi một nỗi buồn se sắt. Nước mắt từ đôi mắt ấy cứ tuôn và hai đầu gối lão cứ khuỵu dần… Quả tim khỏe khoắn và mạnh mẽ của lão giờ đã thoát ra khỏi sự đột trụy, hồi sinh khi những giọt nước mắt kia thấm đầy ngực áo, đánh thức sự tỉnh táo để nhận biết đó là đôi mắt của người đàn bà đã thực lòng yêu thương lão.

Lão đã quên lời khuyên của người hàng xóm. Nếu lão vào miền trung mong tiếp tục công việc, biết đâu có thể gặp lại người vợ bạc bẽo ấy… Sợ rằng nếu gặp, chắc lão sẽ phải trở lại trại giam…

Chặt đứt các dây néo, lão xăm xăm đẩy chiếc vó bè ra khỏi cửa ngòi. Đẩy. Lão cong người đẩy. Đẩy. Lão gập người đẩy. Khi đã gặp luồng nước chảy, lão quăng chiếc xào chống bằng tre hóp trả lại quãng sông đã neo giữ chiếc vó bè bấy nhiêu năm và neo giữ một phần đời của lão. Chiếc vó bè ngạo nghễ, nghênh ngang với bộ giằng như chiếc cần cẩu nổi trôi tự do trên mặt sông đã chuyển màu xám xẫm. Chiếc vó bè dạt vào bên lở. Bờ hẳn nhiên nhưng không hề có bến. Chiếc bè vó quay tròn, trôi, cứ trôi rồi mắc lại bên bồi. Cát trẻ, phù xa non tơ chẳng mặn mà níu giữ. Tất cả như muốn ruồng bỏ, tất cả như muốn đẩy xô giúp cho chiếc vó bè làm một cuộc hành trình vô định.

Giờ thì lão đang trắng tay. Lão biết từ khi chặt đứt các dây néo, lão đã tự chặt đứt cuộc đời mình với quá khứ. Một quá khứ thật bình thường, giản đơn nhưng buồn nhiều, vui ít. Những năm cuối cùng ở trại, lão đã nghĩ tới một viễn tưởng, viễn tưởng chung cục của hối cải và sắp đặt. Ai mà có thể lường hết được bất ngờ này đến bất ngờ khác. Hóa ra đời mình, chỉ sau non nửa một buổi chiều lại như chiếc bè vó đêm nay. Người đàn bà nằm gọn trong vòng tay của lão giờ đây như đang nối dài miên man những ý nghĩ. Không còn ranh giới giữa tột đỉnh với tận cùng của cao thượng với khinh khi…

Lão vẫn còn. Lão chưa thể trắng tay.

Bàn tay lão thô bạo. Bàn tay lão nâng niu. Đầu óc lão mụ mềm, đầu óc lão tỉnh khô trước thân thể một người đàn bà trần truồng và một nửa thế giới nhân sinh.

Thân thể người đàn bà vài ba phút trước còn mềm lả, nóng ran vì khao khát được hiến dâng và tận hưởng bỗng nhiên chống trả dữ dội đòi tự vệ.

Lão lại bất ngờ.

Đàn bà là cái quái gì vậy? Lão không thể nào hiểu nổi thế giới đàn bà.

Lão chết cứng khi nghe thứ âm sắc vừa giận dữ vừa van vỉ của nàng:

– Không được đụng vào em.

– …

Người đàn bà trườn ra khỏi vòng tay lão, dướn người về ngọn đèn dầu. Dưới ánh sáng của ngọn đèn khêu to hết cỡ, thân thể nàng như được nạm lên những chùm hoa gấm.

 

xxx

 

Dường như đã mấy chục năm, chưa có mùa đông nào rét vậy. Gió bấc hun hút thổi. Gió chỉ làm lạnh đất, lạnh cây hoặc theo liên tưởng của người đời, gió  làm lạnh thêm nỗi lòng của những người đơn lẻ. Nhưng sông thì vẫn mang trong mình một năng lượng bẩm sinh. Sông biết ẩn mình dưới lớp mù giăng dày đặc. Vì lớp mù dày đặc đêm ấy mà không ai biết được chiếc vó bè trôi giữa dòng sông bốc cháy như một con thuyền lửa. Và cũng vì lớp mù dày đặc, không ai biết lão đã hì hục dọn sạch đáy ván của một ngôi mộ vừa cải táng ven sông. Không có một nén nhang nhưng khi trở về với đất, nàng là một người đàn bà hạnh phúc. Hạnh phúc bởi nàng vẫn hằng khao khát được yêu – Tình yêu dẫu có muộn màng vì phải chờ đợi và chỉ trong thoáng chốc. Nàng hạnh phúc. Hạnh phúc vì được chết trong vòng tay điên loạn của lão. Nàng được chết khi trên mình không cần một mảnh vải che thân. Với nàng, sự khâm liệm là một điều phỉ báng. Nàng đã hiến dâng, hiến dâng một hình ảnh của tuổi thanh xuân cho lão. Và, dường như ở thế gian này, kể cả các bậc vĩ  nhân, chưa một ai khi trở về với đất có thể sánh với nàng khi được hóa thân thành một hài nhi.

Đôi tay lão đã bê bết máu vì phải cào, phải bốc. Mộ nàng chỉ vèn vẹn không khác gì ngôi mộ cải táng mà người ta vừa san lấp.

Đã có một thời gian dài, dễ phải trên dưới chục năm, dân trong vùng vẫn đồn thổi rằng những đêm tối trời, những đêm mưa phùn gió bấc, ở nơi hung táng ấy có một ngôi mộ vô thừa nhận vẫn lập lòe những ánh đuốc ma.

Chỉ có điều, khi sáng ra, trên mộ nàng vẫn còn những chân nhang mới cắm. Những thân nhang cháy chửa kịp tàn, vẫn uốn cong như những gọng vó bè.

Còn lão, bây giờ ở đâu, làm gì thì hỏi ai cũng…chịu.

 

Triệu Văn Đồi

Địa chỉ liên hệ:

Triệu Văn Đồi – Số nhà 56 – Đường Hoàng Văn Thụ – Tổ 15

Phường Hữu Nghị – Thành phố Hòa Bình – Tỉnh Hòa Bình

ĐT: 0218.3503889.

Emai: trieuvandoi@yahoo.com.vn

About lemaithao

Lê Mai Thao Tuổi : Mão Quê gốc : Hà Nam Hiện làm thơ, viết báo, dạy học tại thành phố Hòa Bình Tỉnh Hòa Bình Địa chỉ mail: maithao63hb@yahoo.com
This entry was posted in VĂN HỌC TRÒ VÀ BÀI VIẾT YÊU THÍCH. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s