MEN SAY MAI HẠ

            – Bút ký –

Đã có quá nhiều giấy mực, quá nhiều người viết về Mai Châu với những địa danh đã đi vào lịch sử, đi vào thi ca, nhạc hoạ… Nói đến Mai Châu, không thể không liên tưởng tới những bước chân năm xưa của đoàn quân Tây Tiến cùng khúc tráng ca trong thơ Quang Dũng. Nói đến Mai Châu là có thể nghĩ ngay đến tiềm năng du lịch của một huyện miền núi phía Tây của Hoà Bình với đa tầng văn hoá.

          Đã hẹn trước với nhà thơ Lò Cao Nhum và Chủ tịch xã Mai Hạ – Anh Vi Xuân Đức – Tôi lên Mai Châu vào một chiều đầu hạ. Đèo Thung Khe mùa này không có sương mù bay ngang lưng núi. Thay cho hơi sương trắng đục như sữa bắp non len vào cổ áo là những ngọn gió Tây nối đuôi nhau trườn trên vách đá trắng xám, lướt trên mặt đường bê tông nhựa áp phan báo hiệu một mùa nắng nóng. Từ lưng đèo bên kia nhìn xuống, những rẻo đồng của Tòng Đậu, Chiềng Sại, Chiềng Châu như một dòng sông xanh ngút, uốn mình dưới chân Pù Khà, Pù Pốc, Pù Luông… Nắng như thế mà nhìn xuống thị trấn Mai Châu cùng bức tranh toàn cảnh như chìm trong một biển sương lam loãng. Thứ sương mà chỉ có thể thấy được từ xa. Mỏng tang, trong suốt đến mơ hồ. Thứ sương núi dẫn dụ du khách vượt đèo Thung Khe để được lạc vào một không gian huyền thoại và bí ẩn. Gần một thiên niên kỷ theo truyền thuyết về một dòng Thái thiên di từ Bắc Hà đến lập nghiệp, hơn bảy trăm năm theo gia phả bằng chữ Thái của dòng họ Hà Công, những biến cố, những thăng trầm lịch sử cùng những phong tục, tập quán sinh hoạt trong cộng đồng người Thái ở Mai Châu… Tất cả như vẫn còn ẩn chứa trong dáng uy nghiêm, trầm mặc của những ngọn Pù, như vẫn hoan ca, da diết trong thao thiết suối Mùn. Và, tôi như kẻ đã được “bập” được vào thứ men say mời gọi, hối thúc đến với  Mường Mùn.

Đêm đầu tiên trong nhà sàn của nhà thơ Lò Cao Nhum ở bản Lác, sau bữa “thù tạc” và cách mơi lẩu (mời rượu) của người Thái trong ẩm thực, đặt lưng xuống mặt phà trải trên đệm bông lau, tôi như người bỗng chốc trở nên không trọng lượng. Tôi bay. Tôi trôi miên man theo nhịp trống, chiêng cùng tiếng “cắc”, “rụp” của những đòn tre trong điệu múa sạp. Mặt mày, thân xác râm ran. Dường như có những ngọn tóc đen mềm, những gấu váy sênh xang, những gié lúa to dài và rất nhặm cứ quét xuôi từ mặt xuống chân, rồi lại ngược lên. Cứ thế. Cứ thế. Tôi lạc vào đêm lửa rừng và ngất ngư trong dân vũ.

Tôi chới với, chơi vơi rồi chìm sâu vào giấc ngủ…

Tiếng con gà tre từ đâu đó cất lên gọi mặt trời thức dậy. Những chiếc chuông gió được làm bằng ống trúc, ống nứa theo nguyên lý của đàn Crongpuc (một loại hàng lưu niệm được bày bán ở khắp các quầy trong bản Lác) như  đồng loạt tấu lên, phụ hoạ cho vũ điệu ngày mới.

Nhà thơ Lò Cao Nhum đang ngồi đọc sách bên cửa sổ. Thi thoảng lại ngẩng lên dõi cái nhìn xa xăm, để rồi lại thu về, hướng trọn vào hai bông hoa khau cút phía trên khung cửa lên xuống cạnh màn thang. Từ góc nhìn ngược sáng, chân dung nhà thơ Lò Cao Nhum nổi bật trên khung cửa sổ nhà sàn với nền sáng không chói gắt – Thứ ánh sáng hoà trộn giữa đêm miền sử thi với ánh sáng ban mai. Đọc, biết và trở nên thân thiết với Nhum ngót hai chục năm nay, vậy mà vẫn chưa đi hết nông sâu bè bạn, chưa tường hết cái cao rộng của thơ Nhum: Bạn đến chơi nhà, uống rượu phải “Vắt kiệt chum mà uống”. Uống cho hết cái tình người, cho hết cái tấm lòng của người Thái Mai Châu.

 

xxx

Uông uống uống bằng bát nhé!

          Tôi và nhà thơ Lò Cao Nhum đến nhà Chủ tịch Vi Xuân Đức ở bản Lầu. Trịnh trọng trải chiếu trên sàn bương mời khách, anh Đức thân mật chuyện trò. Biết tôi muốn tìm hiểu về rượu Mai Hạ anh Đức bảo:

– Ở Mai Hạ thì bản nào cũng nấu rượu, nhưng đặc trưng của rượu Mai Hạ thì phải là rượu của bản Chiềng Hạ.

Tôi đã nhiều lần đến và ăn bưởi Đoan Hùng, nhưng bưởi ngon nhất chỉ có ở làng Chi Đám. Bản Chiềng Hạ chắc là nơi có rượu ngon nhất trong vùng rượu ngon. Sau một tuần trà, anh Vi Xuân Đức đưa chúng tôi sang Chiềng Hạ. Chiềng Hạ là một bản nằm sát chân núi Tén Chòm. Đất đai ở đây cực kỳ màu mỡ và con người hiền hoà, chịu khó, chịu thương. Cứ nhìn những thân lúa, thân ngô thì biết. Rải rác trong bản có một số hộ làm nhà xây. Theo anh Đức đó là những hộ vừa mới được tách ra, không có khả năng làm nổi nhà sàn vì nguyên liệu gỗ bây giờ rất khó khăn, vừa hiếm lại vừa đắt.  Hầu hết người dân ở đây đều muốn ở nhà sàn. Lâu nay, các địa phương khác ở Hoà Bình đang bị “chảy máu” nhà sàn, nhưng riêng Mai Hạ thì rất ít.

Chiềng Hạ có khoảng trên hai trăm hộ dân nhưng hiện tại có khoảng hơn trăm hộ nấu rượu. Nói chung đều nhỏ lẻ. Theo các cụ cao niên trong bản thì nhà nào cũng biết nấu rượu và nghề nấu rượu đã có từ mấy trăm năm trước. Không ai nhớ là có từ bao giờ và các cụ khảng định không có “ông tổ” nghề nấu rượu ở Mai Hạ. Điều này hoàn toàn phù hợp logic về sự phát triển xã hội trong cộng đồng Mường – Thái. Người Mai Hạ nấu rượu như là một việc đương nhiên trong đời sống, kể từ khi con người tìm ra các giống cây trong họ ngũ cốc ắt sẽ tìm ra cách chế biến, một trong những cách chế biến ấy là việc nấu rượu. Khác với  miền xuôi, những làng nghề sinh ra đều chịu sự chi phối theo quy luật trao đổi thương mại. Người Mai Hạ nấu rượu trước đây là để phục vụ nhu cầu tự cung tự cấp. Nấu rượu để dùng vào việc cúng lễ, tết tư và để đãi khách.

Khách đến chơi nhà, chủ nhà trải chiếu ở nơi trang trọng nhất gần cửa sổ. Mời ngồi. Chủ khách đều nhẩn nha nói chuyện, trong lúc đàm đạo người nhà mới bắc ninh (ở dưới xuôi thường gọi là nồi đáy có nước như kiểu đồ xôi), đặt hông lên bếp. Hông nấu rượu của người Mai Hạ là một thân cây khoét rỗng, thường được làm bằng gỗ phay hoặc gỗ mít. Chã rượu (có nơi gọi là cái rượu) được làm từ nguyên liệu sắn cả củ sấy khô, thường được để lâu ngày trên gác bếp. Sắn càng sấy khô và càng để lâu ngày càng hết độc tố, rượu càng trong và không có vị đắng, đem giã vỡ đều bằng ngón tay cái hoặc bằng hạt ngô răng ngựa, sàng bỏ bột rồi đem ngâm nước ở suối Mùn ba ngày ba đêm. Sắn “hạt” vớt lên đem trộn đều với vỏ trấu, cho vào nồi hông đồ chín rồi tãi ra nia, sau khi trộn đều men lá mới ủ khô trong chum. Trước khi bịt kín, nắp chum được phủ  lớp lá Bơ lương, một loại lá to bản, có nhiều lông nhưng không nhặm. Chã rượu ủ trong chum ít nhất bốn tuần lễ, chã để càng lâu càng ngấu, càng được rượu và hương rượu càng thơm. Chã rượu được cho vào hông, trên mặt hông được làm lạnh bằng chậu sành, chậu đồng. Dưới đáy chậu là “ba ba” hứng rượu. Những giọt rượu trong như nước mưa giữa giời chảy qua ống nứa vào chai. Lúc rượu cất xong cũng là lúc thức nhắm với cơm canh đã nấu chín. Chủ khách ngồi xếp bằng tròn trên chiếu quanh mâm bồng. Rượu được rót ra, chủ nhà mơi lẩu. Đại ý nói rằng đã lâu không được gặp nhau, mong chờ như rượu ủ trong chum. Nay có chút lẩu sơ (rượu trong) mừng bạn đến chơi nhà. Khách đáp lễ, khen rượu như nước vàng, nước bạc…

Lời khen quả không khách khí.

Rượu Mai Hạ trong đến độ không thể trong hơn, chỉ cần lắc nhẹ, tăm rượu như bám chắc lấy cổ chai, hồi lâu mới chịu tan. Chưa cần đưa chén rượu chạm môi, hương rượu đã thơm nồng lan toả. Hương rượu tan trong không gian thoáng rộng nhà sàn, hương rượu chạm vào khứu giác và khi hít sâu vào buồng phổi, ta  như được “uống” no nê, say tràn hương rừng, hương đất. Chưa uống mà đã say cái tình của người Mai Hạ hiếu khách. Người Tây khi uống rượu quý thường dùng các loại ly có lòng và miệng rộng. Và, cái “văn hoá” uống rượu Tây hơi điệu đà vì động tác lắc nhẹ cho rượu trườn xoáy trong ly. Các tiểu xảo ấy là cốt cho rượu “thoát” hương. Khỏi cần nhiêu khê, người Mai Hạ uống rượu trong những chiếc chén nhỏ như hạt mít, trên đôi tay nương nhẹ, uống rượu trong tâm thế tự tại, tĩnh tâm mà hương rượu Mai Hạ vẫn cứ “thăng”, cứ “thoát”.

Rượu Mai Hạ nói chung có thể có thể đạt tới trên năm mươi độ rượu. Tới một gia đình, chúng tôi được chủ nhà mời uống rượu. Một ca nhựa nửa lít vừa chắt ở can ra, chủ nhà rót tràn ly nhỏ. Biết là không thể “trăm phần trăm” với rượu Mai Hạ, chúng tôi xin phép  được “thưởng” rượu vì còn phải đi nhiều cơ sở khác. Một lưng chén hạt mít mà phải nhấp mấy lần. Rượu nặng nhưng không “xóc”. Mới nhấp vào đầu lưỡi đã lan nhanh xuống họng. Chỉ một chút rượu mà đã thấy lòng dạ xốn xang. Anh Vi Xuân Đức rót một ít rượu lên chôn cốc rồi bật lửa. Một ngọn lửa xanh, mỏng như sương chiều reo khẽ. Khi lửa tắt thì chôn cốc khô rang. Uống rượu Mai Hạ không thể không nhẩn nha, càng không thể uống theo kiểu “nốc ao”. Rượu Mai Hạ, cách uống rượu của người Mai Hạ kỵ nhất lối ăn sóng uống gió, lối uống rượu xô bồ, vừa uống rượu vừa gào thét như đâu đó vẫn diễn ra.

Uống rượu tại nhà Lò Cao Nhum tại bản Lác Mai Châu.

xxx

Đến thăm cơ sở sản xuất rượu của chị Vi Thị Tồn – Một cơ sở sản xuất “bề thế ” nhất ở Mai Hạ. Trên một khuôn viên rộng, cùng lúc có thể trưng cất được tám “hông”. Khác với cách nấu cổ truyền là công suất của mỗi hông rượu lớn hơn. Hông được cải tiến bằng cách ghép nhiều mảnh gỗ như tang trống (vì bây giờ khó có thể kiếm được những thân gỗ có đường kính lớn như vậy). Trên dãy dài hệ thống bếp có đường cấp nước đến tận nơi. Nước được bơm từ mó nước ngay dưới chân núi Tén Chòm.

Anh Vi Xuân Đức bảo người Mai Hạ không dấu nghề như những địa phương khác, bí quyết cổ truyền thường chỉ truyền cho con dâu mà không truyền cho con gái. Con gái Mai Hạ đi lấy chồng ở nơi khác cũng nấu rượu, cũng những công đoạn ấy, thậm chí về nhà mẹ đẻ lấy men nhưng khi rượu cất ra, cái mùi hương không thể đặc trưng như hương rượu Mai Hạ. Theo anh Đức thì cái hương rượu Mai Hạ là do nước. Nước chỉ có thể lấy từ suối Mùn, từ các mó nước được chắt ra từ “gan ruột” của núi Tén Chòm. Tôi nghĩ giả sử có một cuộc thử nghiệm  đem nước từ suối Mùn, từ các mó nước ở núi Tén Chòm về các địa phương khác mà thực hiện  quá trình trưng cất thì chưa chắc đã đạt được chất, hương như rượu cất tại Mai Hạ. Đấy là đặc tính thổ nhưỡng độc tôn, tương hợp mà tạo hoá và các bậc tiền nhân đã ban tặng, đã trao gửi cho người Mai Hạ. Cái men say, cái hương rượu dù chỉ uống một lần đã không thể nào quên. Nó là sự tích tụ từ trời đất, cỏ cây và tâm thức người Mai Hạ.

Bữa cơm trưa ở nhà chị Vi Thị Tồn và anh Ngần Xuân Hùng, chúng tôi thật sự được uống rượu trong tâm thế tự tại, tĩnh tâm. Chủ, khách cứ nhẩn nha thưởng rượu và chuyện trò thân mật. Men rượu đưa câu chuyện tới những miền xa lắc, tới những vấn đề khi bức xúc, lúc nhạy cảm… Nhưng dù nói ở phương nào, đề cập đến những vấn đề gì rồi cuối cùng cũng quay về chuyện rượu Mai Hạ. Nghe anh Ngần Xuân Hùng cho biết thì để có một chén rượu Mai Hạ là cả một sự kỳ khu. Bắt đầu là công đoạn làm men. Các loại lá làm men không bao giờ có bán sẵn, người Mai Hạ đều tự đi hái, nhiều loại hiện nay quanh vùng Mai Châu đã không còn nhiều nữa. Phải vượt sông Mã sang đất Quan Hoá, Bá Thước của Thanh Hoá mới hái được. Hơn chục loại lá, củ, quả như giềng dại, gừng, nhòng nhạnh, cú đin, bưởi, ổi, hồng bì…. hái về rửa sạch, phơi khô rồi gĩa nhỏ, rây thành bột (Bây giờ mới có máy nghiền chứ trước đây đều phải giã chày tay) rồi đem trộn đều với bột gạo và bột sắn. Nắm men của người Mai Hạ to như những chiếc bánh bao, xốp và cầm lên thấy nhẹ bỗng. Mười mấy năm nấu rượu, men rượu của chị Tồn khi ủ chã đều mau ngấu, cất mẻ nào cũng được rượu. Là người đã nhiều năm gắn bó với rượu Mai Hạ, chị Tồn có khả năng “kiểm định”, “nhận diện” đúng “chân dung”, xuất xứ của rượu Mai Hạ. Rượu nào nấu ở bản Lầu hay các bản khác, rượu nào do chính tay chị nấu… Dường như trong các nghề cổ truyền, nhất là nghề nấu rượu, công thức chế biến là một chuyện, “nước” rượu cất ra con phụ thuộc vào người chủ có hữu duyên, có “mát tay” nữa kia. Trung bình mỗi năm nhà chị Tồn cho “xuất xưởng” chừng năm, sáu nghìn lít. Với một cơ sở sản xuất như hiện nay, con số đó với chị Tồn còn quá khiêm tốn.

Anh Ngần Xuân Hùng – Chồng chị thì hào hứng khi nói về ý tưởng“Mặc áo cho rượu Mai Hạ đi xa”. Xin được nói rõ “thuật ngữ” này là tên một bài viết của phóng viên báo Hoà Bình trong chuyên mục kinh tế nông nghiệp nông thôn. Đó là việc tiến tới đăng ký chất lượng, nhãn mác cho rượu Mai Hạ, để rượu Mai Hạ có mặt trên thị trường rộng lớn trong cả nước. Anh Ngần Xuân Hùng cũng cho biết: Mới đây, Viện Khoa học công nghệ thực phẩm thuộc Bộ Công thương đã về cơ sở sản xuất của anh chị, khảo sát và xây dựng một dự án đầu tư dây chuyền công nghệ lọc rượu, nhằm đưa ra một sản phẩm đồ uống đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc gia, để rượu Mai Hạ có thể đăng ký chất lượng hàng hoá và độc quyền sở hữu thương hiệu.

Cũng như rượu Mẫu Sơn, Bắc Hà, San Lùng, Làng Vân, Văn Điển…rượu Mai Hạ đã nổi tiếng từ lâu. Sự nổi tiếng của các loại rượu này gắn liền với mỗi vùng đất về nguyên liệu, công thức men, cách trưng cất và điều kiện khí hậu… Đưa rượu Mai Hạ “đi xa” là một định hướng đúng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Mai Hạ. Nó không chỉ giúp cho Mai Hạ khôi phục, phát triển nghề truyền thống, đưa lại hiệu quả kinh tế, nâng cao đời sống của người dân mà còn góp phần bảo tồn, giới thiệu nét văn hoá riêng của người Thái ở Mai Hạ ra bốn phương.

Đưa rượu Mai Hạ “đi xa” cũng có nghĩa là chấp nhận sự cạnh tranh lành mạnh nhưng rất khốc liệt trên thương trường. Các cơ quan hữu quan của huyện, tỉnh và Bộ Công thương cần có sự quan tâm, hỗ trợ và đặc biệt cần có cơ chế thông thoáng để cho rượu Mai Hạ sớm có mặt trên thị trường cả nước.

Để có được chỗ đứng trên thị trường rượu vốn đã rất phong phú, đa dạng và chiếm được lòng tin của người tiêu dùng, ngoài chất lượng sản phẩm thì việc thiết kế bao bì, nhãn mác bắt mắt, ấn tượng cần phải đặt lên hàng đầu trong khâu tiếp thị. Thử ngược thời gian, từ xa xưa khi sành, sứ, thuỷ tinh chưa được ứng dụng rộng rãi, người vùng cao nói chung cũng đã biết đến “thức đựng” vốn có sẵn trong trong các loại cây, quả. Từ vỏ quả bầu khô đựng rượu mà cho đến nay, mãi mãi về sau trong tiếng Việt sẽ không bao giờ mất đi cụm từ “bầu rượu”. Và, rượu “Moộc le” là loại rượu được đựng trong các đoạn ống tre, ống nứa… Từ những phát hiện rất xa xưa ấy mà trước tiên là ngành sành, sứ, sau này là một số nhà sản xuất  rượu như Mẫu Sơn, Bàu Đá, San Lùng… đã nhanh nhạy mô phỏng. Tin rằng rượu Mai Hạ cũng sẽ có nhãn mác, bao bì dưới hình thức thích hợp để người tiêu dùng không chỉ đơn thuần thưởng thức hương, vị của rượu Mai Hạ mà còn đón nhận một thông điệp văn hoá của người Thái ở Mai Hạ thông qua RƯỢU.

 

xxx

 

Rời Mai Hạ, ngồi sau xe máy của nhà thơ Lò Cao Nhum trong một chiều nắng nỏ, tôi cứ ôm riết lấy anh. Nếu không. Chắc tôi cũng sẽ lại “bay” lên mất vì …say. Khác với cái say đêm qua ở bản Lác. Tôi say bởi cái Men – say – Mai – Hạ.

 

Triệu Văn Đồi

 

About lemaithao

Lê Mai Thao Tuổi : Mão Quê gốc : Hà Nam Hiện làm thơ, viết báo, dạy học tại thành phố Hòa Bình Tỉnh Hòa Bình Địa chỉ mail: maithao63hb@yahoo.com
This entry was posted in VĂN HỌC TRÒ VÀ BÀI VIẾT YÊU THÍCH. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s